Chào mọi người,
Tháng Mười Một đã đến và năm 2025 lại sắp sửa kết thúc. Nhìn lại mười tháng vừa qua, ngoài công việc chính mình làm thì còn có một nội dung đã chiếm khá nhiều thời của mình mỗi tuần: ứng tuyển các chương trình (gồm hội thảo, hội nghị chuyên đề, tập huấn) giao lưu quốc tế. Thật ra mình đã làm điều này từ khá lâu, bắt đầu từ năm 2017 khi còn học ở Học viện Báo chí. Sau những năm Covid-19 tạm nghỉ để đi học Thạc sĩ, mình bắt đầu ứng tuyển lại từ năm ngoái. Thế nhưng năm nay, nỗ lực này của mình tăng cao hơn hẳn do công việc có tính chất hybrid giúp mình dành dụm được thêm vài tiếng trong ngày cho các mục tiêu cá nhân.
Dù đã đi sáu chương trình ra nước ngoài kiểu vậy nhưng mình vẫn thường xuyên đối mặt một thách thách tâm lý khi định đâm đơn ứng tuyển một cơ hội nào đấy, đó là: “Thôi chắc chẳng đỗ đâu”. Tâm lý này không xảy ra cho mọi lần mà thường cho các cơ hội mà mình rất thích nhưng thấy rất khó. Cái rất khó với mình ở đây thường là: chương trình đài thọ mọi chi phí cho ứng viên, được tổ chức ở một châu lục khác châu Á (đồng nghĩa với sẽ khó được chấp nhận tài trợ hơn do giá vé từ Việt Nam tới một nước châu Âu, Úc, Mỹ là khá cao), được tổ chức bởi một đơn vị có uy tín cao (như Harvard), đã tổ chức qua nhiều năm và có độ nhận diện cao với công chúng, số lượng đại biểu lựa chọn ít và/hoặc ít trên mỗi quốc gia, chấp nhận ứng viên từ mọi quốc gia và vùng lãnh thổ ứng tuyển. Thường khi gặp những chương trình kiểu vậy, mình cảm thấy độ tự tin bị thách thức rất nhiều; song mình cho rằng tâm lý đó cũng là có cơ sở thôi khi mình phân tích được tương quan giữa nguồn lực của bản thân và kỳ vọng của chương trình. Thường xuyên, mình đã lưu lại một số chương trình vào danh sách “cần apply” trong một file excel mình hay dùng để tự theo dõi, nhưng tới cuối lại không làm nữa do cảm thấy khả năng được chọn là khá mong manh.
Trong khoảng hai tháng gần đây, mình vượt qua tâm lý này tốt hơn. Nhưng trạng thái “vượt qua” đó không đến từ việc mình tìm mọi cách để giúp bản thân tự tin hơn. Trái với đó, mình chấp nhận rằng có những chương trình mình rất tự tin sẽ đỗ, còn có những chương trình thì không; nhưng dù có tự tin hay không, mình vẫn sẽ hành động vì bốn lý do sau.
Một, tạo thói quen cho não bộ: đã định làm việc gì là phải làm cho bằng xong.
Không thiếu lý do trên đời để ta làm không xong một việc gì đấy: do việc khác quan trọng hơn đột nhiên xen vào, không còn đủ thời gian như dự tính, không thích làm nữa, phát hiện việc này hoá ra phức tạp hơn mình vốn tưởng, không tin rằng làm xong việc này sẽ đem đến kết quả như ý. Và vân vân.
Bất cứ lựa chọn nào chúng ta chọn cũng là bước đi của não bộ nhằm giúp chủ nhân của nó bớt “đau đớn” hơn. Nên chúng ta chọn bỏ dở như một cách chấm dứt sự “đau đớn”. Song, hậu quả lâu dài là dần dần, chúng ta dễ đuổi theo những công việc đem lại hình hài kết quả chắc chắn và trong thời gian ngắn. Những tác vụ cần nhiều niềm tin, sự kiên trì, mâu thuẫn đầu óc,… để thực hiện, ta không còn làm nổi. Trạng thái “làm cho xong được” vì thế là một trạng thái rất dễ đánh rơi. Vì chỉ cần một lần dừng giữa lưng chừng, não bộ sẽ nhìn nhận bước đi đó là một trải nghiệm thoải mái, và nguy hiểm hơn, là đúng đắn.
Dù đã từng đi qua những ngày ngồi vắt óc nghĩ bài tập kinh tế tới sáng, hay ngồi lỳ gần mười tiếng đồng hồ để viết luận môn luật, thì mình vẫn… đánh rơi sự hoàn thành đối với những điều nhỏ nhoi ở hiện tại đấy thôi. Lời cam kết của mình với chính mình rốt cục vẫn là lời cam kết khó thực hiện nhất. Vì người giám sát cũng chính là kẻ thực thi.
Vậy nên, mỗi lần thấy nản trước một lá đơn, mình lại xốc cái thân lên mà viết tiếp vì suy nghĩ: phải tạo cho não bộ một thói quen tốt.
Hai, luyện hành động chỉn chu ngay cả khi có ít niềm tin.
Có hai loại niềm tin xuất hiện trong mình được quan sát thấy: niềm tin sâu thẳm và niềm tin có tính thời vụ. Niềm tin sâu thẳm là những sự tin gắn với tính cách và giá trị, trong khi niềm tin thời vụ nói lên cái tin về một khả năng của tương lai. Niềm tin thứ hai này là niềm tin rất dễ lung lay, do cảm giác “tin” liên tục được điều chỉnh bởi các thông tin nạp vào trong quá trình đi tới. Khi các thông tin “thuận”, tức giúp củng cố niềm tin, ta sẽ vững tay chèo; còn khi tiếp xúc các thông tin gây mâu thuẫn sự tin, ta thấy lòng khựng lại và chùng xuống.
Luôn luôn, cảm giác viết đơn cho một chương trình mình có nhiều niềm tin sẽ được chọn sẽ luôn thoải mái hơn nhiều so với một chương trình khó với. Nhưng điều trớ trêu là, càng thấy khó với, ta càng nản và càng nản thì càng khó mà tập trung tâm trí cho ra những đoạn viết hay được. Hay nói cách khác, cái sự “thấy khó” ban đầu mới chính là cái khó thật sự gây nên thách thức trên đường ta đi tới.
Vì thế, mỗi lần thấy khó, mình dặn lòng rằng hay là cứ thử làm chỉn chu một việc khó xem sao. Mình không hướng tâm trí về khả năng đạt học bổng nữa, mà hướng sang việc viết cho trọn đoạn văn này, câu trả lời này. Vì mỗi lần viết là một lần sắp xếp các ý trong đầu, lên cấu trúc, chọn từ ngữ, và phân tích một vấn đề mới hay kiểm tra lập luận về một vấn đề cũ. Mình cố gắng nhìn nhận quá trình này là một cơ hội nữa để luyện não và học tập. Cứ coi như việc ứng tuyển là cái cớ để tự giao bài tập cho bản thân. Nếu không có “cơ hội khó” đó, mình sẽ chẳng tư duy đến những địa hạt chuyên môn như vậy bao giờ.
Ba, ngay tại khoảnh khắc này, tất cả ứng viên đều là những tâm hồn đầy nghi ngại.
Trong chiêm nghiệm, mình đã thấy được một cái nhìn giới hạn: hẳn là có những người xuất chúng định sẵn sẽ được chọn, còn phần còn lại thì không. Khi bình tĩnh nhìn nhận lại, mình thấy rằng dù một người có giỏi đến đâu, trước khi khoảnh khắc đỗ thật sự đến, họ cũng hoàn toàn là một người đi chắt chiu từng cơ hội như mình đây thôi. Họ cũng muốn đỗ, và cũng KHÔNG HỀ biết được rồi có đỗ hay không – tại khoảnh khắc ấy. Điều mà cả mình và họ đều phải làm là cứ đi cái đã. Điều mà mình và họ có thể làm khác nhau là đi hết mình hoặc không.
Nhìn thấy điều này, mình hiểu ra rằng một người có thể rất giỏi, hội đủ điều kiện để được chọn nhưng nếu họ không lựa chọn đi thật chỉn chu, nghiêm túc với lá đơn thì kết quả cũng sẽ không như ý. Vì sự nghi ngại là có trong tất cả mọi người, nên nếu vượt qua được tâm lý này, mình thấy mình đã… hơn được nhiều người lắm. Có lẽ, đây là một phép thử trong vòng đơn của mọi chương trình học bổng mà không được ghi thành văn ở bất cứ đâu, nhưng ai cũng phải trải qua.
Cuối cùng, niềm tin sinh ra từ hành động, không phải cứ… ngồi đó mà tin.
Có một sự thật là mỗi lần nhấn nút “submit” (gửi đơn ứng tuyển) là một lần mình bỗng… tin hơn vào khả năng được chọn. Nếu không gửi đơn, có lẽ mình sẽ mãi cảm thấy khoảng cách từ năng lực của bản thân cho đến việc bước vào cộng đồng những người được chọn là rất xa. Việc hoàn thành một chiếc đơn cho một chương trình khó và gửi nó đi, bỗng mang lại cảm giác hoá ra mục tiêu này vẫn thuộc ngưỡng với có thể với được, và không hoàn toàn “không tưởng” như mình vẫn tưởng.
Trái với suy nghĩ rằng cần tích đủ niềm tin rồi mới hành động, mình nghĩ cứ phải đi thì niềm tin mới tới. Cùng là “không tin”, thì thà cứ vừa làm vừa không tin, còn hơn vừa không tin lại vừa không làm – kết quả đã được trả ngay tại thời khắc đó.
Vì giá trị của bạn sẽ không đột nhiên tăng lên hay đột nhiên mất đi chỉ nhờ đỗ hay trượt một chương trình, nên là cứ làm đi. Có lao động thì mới có giá trị gia tăng ;).
Chúc mọi người an vui với những… đề bài khó 😊.




Bình luận về bài viết này