Mấy tháng gần đây, mình ôn lại IELTS do cần chứng chỉ mới (bằng IELTS gần nhất đã từ năm 2021) để nộp cho vài mục tiêu học hành. Nghe “mấy tháng” có vẻ ghê gớm vậy chứ mình hoàn toàn không dành phần lớn thời gian trong ngày cho mục đích ôn luyện này (gần đây mình đã lựa chọn bước ra khỏi công việc full-time không còn phù hợp, chỉ giữ lại một việc part-time). Trước khi đóng tiền book lịch thi, mình đã tưởng tượng ra lịch trình một ngày ken đặc các khung giờ phân bổ cho việc luyện 4 kỹ năng haha, nhưng thực tế thì khác xa. Lần ôn luyện để thi lại này cho mình khá nhiều ngẫm nghĩ về sự (tự) học ở độ tuổi gần 30, hay cũng là cái ngưỡng mà rất nhiều người trong xã hội thường nói rằng “học sâu ở tuổi này khó lắm”, “càng nhiều tuổi não càng chậm”, “não không còn nhét thêm thông tin được như ngày ‘trẻ’”.
1/
Mình không nghĩ rằng trải nghiệm của số đông nhất thiết phản ánh trải nghiệm của bản thân mình, song ở thời điểm hiện tại, mình phần nào hiểu được tại sao nhiều người nghĩ rằng càng lớn tuổi thì học càng khó (dù mình không cho rằng điều đó luôn đúng). Khi còn đang ở độ tuổi mà việc tham gia vào hệ thống giáo dục / đào tạo chính quy chiếm phần lớn thời gian (từ tiểu học cho tới hết đại học), việc học nghiễm nhiêm luôn chiếm trọng số lớn nhất trong quỹ thời gian / năng lượng mà trí não chúng ta phân bổ vào. Việc học cứ nghiễm nhiên trở thành điều quan trọng nhất vậy. Nhưng sau khi đi làm, có gia đình, trọng số này sẽ dần trở nên bé lại vì lúc này chúng ta sẽ tự hỏi: Liệu học cái này có giúp ích trực tiếp mục tiêu kinh tế / sự nghiệp / gia đình nào hay không? Chỉ riêng việc tìm lí do để học thôi, việc học đã phải ‘chiến đấu’ với những mục tiêu khác để được bắt đầu. Cái cảm giác toàn tâm toàn ý cho việc học từ đó mà cũng khó sinh khởi.
Ở thời điểm hiện tại, chính mình cũng cảm thấy không còn có thể và muốn lờ đi mọi thứ khác trong cuộc sống để học (dù mình vẫn sẽ tiếp tục học). Nhiều lúc ngồi làm đề IELTS mà tự dưng tâm trí lại nghĩ đến một con job cần apply, hay… tối nay ăn gì (dù dạo này chồng nấu ăn phần lớn ^0^). Tâm trí trở nên phân mảnh (fragmented) hơn vì cùng lúc phải quản lý nhiều tác vụ, chứ không còn trạng thái đơn mục tiêu như ngày trước nữa. Tuy nhiên, ở đây mình muốn nói đến một điều quan trọng là cuộc sống của bạn không nhất thiết phải trở nên hỗn loạn, khó khăn hay thiếu kiểm soát (như việc nhiều vấn đề về gia đình, công việc, mối quan hệ, sức khoẻ,… cùng xảy đến một lúc chẳng hạn) thì trạng thái “não đa tác vụ” này mới diễn ra. Cá nhân mình tự cảm thấy rằng cuộc sống gia đình và các vấn đề cá nhân gần như luôn rất well-organized. Như: hai vợ chồng có sự đồng thuận và nhất quán cao trong chuyện vận hành nhà cửa, không khí chủ đạo của mối quan hệ luôn là thúc đẩy người kia phát triển bản thân thay vì tập trung vào các chuyện li ti tủn mủn như củi gạo dầu muối, bếp núc giặt giũ; các kế hoạch cá nhân của mình cũng đi khá đúng tinh thần & định hướng mong muốn (trộm vía); các mối quan hệ cũng không có pending issues nào ghê gớm khủng khiếp. Thế nhưng, kể cả khi mọi chuyện nhìn chung đều tốt đẹp và ổn thoả, thì não bộ mình vẫn không thể settle hoàn toàn để yên tâm học như hồi nhỏ / trẻ hơn vì dường như lúc nào cũng có những “chương trình chạy ngầm” vậy.
Vì thế, khi càng lớn thì mình càng thấy việc chia đời người ra làm các giai đoạn riêng biệt cũng có cái hay. Tuổi nào thì làm việc gì. Từ 6 đến 22 tuổi là thời gian đến trường thì nên tận dụng để học tốt nhất có thể. Vì khi ấy mình đi học và người khác cũng đi học, cùng một vấn đề / môn học có nhiều người học / thi đua cùng mình nên dễ nâng nhau đi lên. Kể cả ganh đua cũng rất tốt, miễn là có thể tiến bộ. Khi đi làm rồi, mỗi người sẽ tự học vì các mục tiêu khác nhau trong sự nghiệp và cuộc sống, khi đó đạt mục tiêu không còn là bắt buộc (vì làm gì cần thi chuyển cấp), cũng chẳng có deadline cụ thể. Chúng ta được thênh thang chọn điều mình muốn học, và cũng được thênh thang… từ bỏ. Vậy nên mình cảm thấy, học khi đã đi làm, đã có gia đình ‘khó’ không phải vì khả năng của chúng ta, mà tâm trí cứ phân tán quá, đường đời cứ mênh mông quá.
2/ Chúng ta bắt đầu có định kiến.
Mình nhận ra khi càng lớn, mình càng có xu hướng hình thành các quan điểm về những thứ mình học. Chẳng hạn như với IELTS, mình phải thú nhận rằng mình không cảm thấy tận hưởng lắm quá trình ôn luyện ở lần thi lại này, sở dĩ vì mình thấy những “tips” được truyền tay trong luyện IELTS (và nó thực sự khiến điểm bạn cao lên) không nhất định phản ánh khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc hằng ngày. Có lúc mình cảm thấy chán ngán việc phải học tips để chày cối nâng điểm. Chẳng hạn: trong IELTS reading thì kĩ năng skimming (đọc lướt) và scanning (đọc quét) là rất quan trọng vì nó giúp bạn tiết kiệm thời gian làm bài. Nhưng trong một thế giới khi ai cũng cố gắng tăng tốc và làm mọi thứ nhanh nhất có thể (dùng AI tóm tắt, đọc hộ các văn bản công việc), việc dừng lại để đọc chậm, sâu và chắc một văn bản lại trở nên quý giá. Cá nhân mình thuộc dạng CÓ THỂ đọc nhanh nhưng chẳng có tí thoả dụng nào trong làm việc đó, trừ phi khẩn cấp và bắt buộc. Vì thế nên khi đã hiểu sự ứng dụng và mức độ cần thiết của kĩ năng này trong cuộc sống thực tế, mình bị hình thành thái độ hơi không thích với việc luyện IELTS reading. Không chỉ thế, mọi người từng luyện IELTS cũng đều biết rằng dạng bài T/F/NG và Y/N/NG trong IELTS là cái dễ lừa người nhất. Nhiều lúc làm đề, ngồi track lỗi sai và xem cách giải thích (hiện nay trên các trang luyện đề IELTS, bạn đều có thể xem được lời giải thích cho mỗi đáp án) mà mình cảm thấy cứ không phục, rồi lại tự nhủ giờ mà cho mình “cãi nhau” với hội đồng chấm thi về kết quả của câu này thì cũng chưa biết ai thắng ai thua đâu. Nếu như ngày cấp 3 hay đầu Đại học, mình vẫn còn tự thấy bản thân “non tơ” và gần như luôn công nhận / đồng ý với mọi lời giải thích của lời giải và thầy cô, thì khi đã có tư duy phản biện tốt hơn, mình trở nên “nghi ngờ” hơn về cơ sở của mỗi câu trả lời. Điều này có mặt tốt là mình nhanh chóng nắm bắt được logic của cách ra đáp án, nhưng cái không tốt là hình thành sự “bất mãn” ở một mức độ nhất định trong quá trình học. Mình không còn nhìn IELTS như một cái đích fancy cần phải đến, mà chỉ mong đạt đủ aim để phục vụ mục tiêu lớn hơn khác mà thôi.
Trải nghiệm này khiến mình liên hệ rộng hơn sang câu chuyện “càng già càng bảo thủ”. Đôi khi mình cũng tự hỏi, liệu rằng có khi nào mình đạt đến một độ tuổi và chợt trở nên thật… bảo thủ và khó thay đổi trong mắt các em trẻ mới ra trường hay không? Mình cũng không biết nữa. Quả thực, khi chúng ta càng thêm tuổi thì nhiều quan điểm, lập trường cũng trở nên càng vững chắc (do trong hành trình sống, chúng ta có thêm trải nghiệm và kinh nghiệm để kiểm chứng / bác bỏ các nhận định), không dễ bị lung lay và thay đổi như khi còn trẻ. Tuy nhiên, mình nghĩ ranh giới mỏng manh giữa thái độ bảo thủ và sự kiên định nằm ở việc lập trường của chúng ta được giữ vững trước hay sau khi xem xét toàn diện lập trường của người khác. Nếu như chúng ta đã cởi mở và cho phép thế giới quan nới rộng để xem xét trọn vẹn góc nhìn của người khác, mà (một cách lí trí) vẫn giữ lập trường của mình, thì mình nghĩ đó là một sự kiên định có cơ sở. Nhưng nếu chúng ta lựa chọn giữ lập trường trước khi thật sự cởi mở để đón nhận những cái thấy trong điểm nhìn của người khác, chúng ta nhiều khả năng là đang bảo thủ.
Không biết, mọi người có trải nghiệm và suy nghĩ như thế nào với chuyện “định kiến trong học tập” và “bảo thủ khi già” này? 😊
3/ Học trong thời AI.
Phải công nhận là các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi rất nhiều cách thức học tập của con người so với trước đây. Mình nhớ lúc còn học cấp 2 và đi học thêm tiếng Anh để thi chuyên, mình thường xuyên học từ mới bằng cách tự đặt câu, viết truyện và viết nhật ký để sử dụng các từ mới đó. Tất nhiên là viết bằng tay! Tới đại học thì chuyện viết tay đã không còn nữa. Và tới giờ khi có AI, mọi thứ còn nhanh gọn hơn khi mà mình có thể quăng luôn 10, 20 từ mới và nhờ ChatGPT viết một đoạn văn sử dụng các dữ kiện về mình mà nó đã biết và chứa đựng các từ mới đó. Hay như việc tra từ mới, dân cày cuốc tiếng Anh ngày xưa chắc ai cũng có cái gọi là kim từ điển (quả thực mình không biết sau này khi có con, sẽ phải giải thích cho con về khái niệm “kim từ điển” thế nào nữa). Bấm từng cái phím nổi trên bàn phím để nhập từ mới vào máy, rồi hồi hộp đợi xem từ này có trong kho dữ liệu của máy hay không. Ôi, thật là tuổi thơ dữ dội! Giờ thì đôi khi đến cả việc nhập từng từ vào Google để tra nghĩa, mình cũng… không còn làm nữa. Lắm khi đọc xong một bài báo / vài trang sách và ghi xuống được quá trời từ mới, mình toàn thảy luôn vào ChatGPT và nhờ nó tra nghĩa tiếng Anh, tiếng Việt, phát âm, từ đồng nghĩa trái nghĩa,… rồi paste câu trả lời vào file Excel đã chuẩn bị sẵn.
Thuận tiện là thế, nhưng nếu được lựa chọn giữa một thế giới có và không có AI, mình vẫn sẽ chọn không có. Sở dĩ vì mình luôn cảm thấy, nếu thế giới đã từng có thể vận hành mà không có AI, thì vẫn có thể tiếp tục vận hành mà không có AI vậy. AI khiến mình làm việc và học tập một cách nhanh chóng và gọn gàng hơn, không phải in cả chồng cả xấp tài liệu ra rồi tỉ mẩn gạch gạch viết viết từng câu từng chữ nữa, nhưng cũng tước mất đi của mình niềm vui của quá trình học tập thủ công ấy. Dù biết rằng nếu muốn học tập kiểu như vậy, thì mình cứ đơn giản là làm nó thôi; nhưng về mặt tâm lí thì thật không đơn giản! Cái tâm thái thong thả nghiền ngẫm, cặm cụi ghi ghi chép chép sẽ không còn được bảo tồn nếu như bên cạnh luôn có một anh bạn “tiếng gọi hiệu suất” gợi ý cho những cách làm nhanh, đơn giản hơn. Điều này lại càng đặc biệt có lí khi não trạng đã vốn ở vào trạng thái phân mảnh như mình đã phân tích ở 1/.
Tóm lại là gì? Là việc học ngày nay với AI sẽ dễ cho chúng ta cảm thấy giải quyết được nhiều tác vụ học hành hơn trong một đơn vị thời gian, nhưng chưa chắc đi kèm với CẢM GIÁC CHĂM CHỈ. Hãy nhớ lại ngày xưa, khi giải một bài toán khó, có khi ngồi gặm mòn cả đuôi của một cây bút bi suốt 3 tiếng đồng hồ cũng chưa chắc xong: xét về số lượng tác vụ giải quyết được, chắc chắn là 0 vì một bài toán cũng chưa xong, nhưng rõ là chúng ta cảm nhận rất chắc chắn về sự chăm chỉ đã bỏ vào 3 tiếng đó. Cái cảm giác chăm chỉ chân thật đó chính là thứ khiến mình cảm thấy quá trình học tập ngày xưa thật đầy thoả mãn. Đôi khi nghĩ, mình vẫn may mắn khi hoàn toàn chương trình thạc sĩ Chính sách công khó nhằn ở Fulbright ngay trước khi AI… xâm chiếm thế giới. Thực tế là mình bắt đầu làm luận văn thạc sĩ vào cuối năm 2022, cũng chính là thời điểm ChatGPT bắt đầu xuất hiện rầm rộ ở Việt Nam. Tuy nhiên may sao hồi đó mình chẳng bằng tò mò dùng thử mà phải đến tháng 5 hay 6 gì đó, lúc bắt đầu đi làm chính thức ở một tổ chức quốc tế, mới mở ra dùng lần đầu cho việc dịch thuật. Mình không tưởng tượng nổi nếu ChatGPT chỉ tới sớm hơn một năm thôi, hay nửa năm, thì trải nghiệm học của mình ở Fulbright đã có thể bị phá huỷ tới mức nào T0T. Giờ đây khi chứng kiến cảm xúc của bản thân trước việc “học cùng AI” ở thì hiện tại, mình luôn thầm thấy “trộm vía tỉ lần” khi từng được lớn lên trong bầu không khí học tập nghiêm túc, thực chất, đầy khó khăn mà mãn nguyện.
4/ Lời bào chữa giả vờ chính đáng.
Kế hoạch học IELTS trong một ngày của mình không phải bao giờ cũng thành công, mà một lí do to đùng đó là… ở nhà vui quá :). Mình hay đùa với chồng là tại sao nếu như ngày xưa lúc học cấp 3 hay đại học, mình đang học bài mà táy máy mở video call ra gọi cho người yêu thì hành vi đó sẽ được xem là “mải yêu đương mà sao nhãng học hành”, mà giờ khi đã là vợ chồng rồi, thì việc dành thời gian trò chuyện với nhau vào buổi tối (mà không ngồi học) lại được xem là ưu tiên chăm sóc gia đình? :)) Vậy nên mình thấy, có gia đình (và con cái) quả thực là một… cái bẫy nếu chúng ta không tỉnh táo, vì những lời bào chữa cho việc không chịu học sẽ được bọc trong một sự an ủi chính đáng khủng khiếp!! Chúng ta cứ nghĩ rằng gia đình cần mình, con cái cần mình, rồi nhà bao việc… trong khi đôi lúc sự thật là do ta lười thôi :). Khi chưa lập gia đình, chỉ có mình với mình, nhận diện sự lười là rất dễ. Nhưng sự tự nhận thức và kỷ luật bản thân của bạn sẽ được đẩy lên một tầm cao mới khi cấu trúc cuộc sống thay đổi và nhiều trách nhiệm khác xuất hiện trong đời. Mình thấy, quan trọng nhất vẫn là không đổ lỗi. Nếu hôm đó mình dành thời gian trò chuyện với chồng (đơn giản vì khi ấy mình thích hoạt động đó hơn), mình cần hiểu rằng mình ĐÃ CHỦ ĐỘNG lựa chọn điều đó, thay vì cho rằng mình bị một ngoại lực tác động và bất đắc dĩ phải từ bỏ việc học.
Chẳng ai có thể cản được chúng ta theo đuổi mình thật sự muốn. Nên lắm khi, mình nghĩ rào cản lớn nhất để học trong bối cảnh có các trách nhiệm gia đình KHÔNG PHẢI là thiếu thời gian hay khả năng, mà là các giới hạn tâm trí chúng ta tự động vẽ ra. Một lời bào chữa nghe có vẻ chính đáng, nhưng sâu xa có khi là lời tự thuyết phục để khỏi phải học thứ khiến ta cảm thấy mình còn yếu kém.






Trả lời